GIẢI MÃ TÁC DỤNG CÁC BÀI THUỐC NAM “LẠ MÀ QUEN” VÀ TÁC DỤNG THỰC SỰ

THUỐC NAM CHỮA THOÁI HÓA, THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM VÀ CÁC BỆNH CỘT SỐNG CÓ TỐT?

Các bài thuốc nam chữa thoát vị đĩa đệm đóng một vai trò quan trọng trong phương pháp điều trị nội khoa. Theo đó, thành phần của các bài thuốc nam hoàn toàn là từ 100% cây thuốc nam có tác dụng giảm viêm, cân bằng âm dương, thư cân, giãn cơ, củng cố chức năng tạng phủ, hồi phục sức khỏe… cho người bệnh thoát vị.

Trong bài này, chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn về các bài thuốc nam chữa thoát vị đĩa đệm. Bên cạnh đó là tìm hiểu thêm về các phương pháp y học cổ truyền, hiện đại có tác dụng điều trị/hỗ trợ điều trị bệnh lý này.
Chữa thoát vị đĩa đệm bằng Đông y
Chữa thoát vị đĩa đệm bằng Đông y là một cách gọi rộng hơn của việc dùng các bài thuốc nam chữa thoát vị đĩa đệm, kết hợp với sử dụng các liệu pháp hỗ trợ như như châm cứu, bấm huyệt, xoa bóp, đốt thuốc…
So với việc chữa thoát vị đĩa đệm bằng thuốc tây, điều trị bằng kỹ thuật xâm lấn phẫu thuật… chữa thoát vị đĩa đệm bằng Đông y được đánh giá là không nhanh bằng nhưng vẫn được rất nhiều người bệnh tin tưởng áp dụng. Điều này xuất phát từ các ưu điểm sau:
Hiệu quả bền vững: Nguyên tắc bất di bất dịch của việc điều trị Đông y đó là “Chữa bệnh thì chữa từ gốc”. Điều này khác hoàn toàn với tây y chỉ trị “ngọn”. Nhờ vậy, quá trình điều trị tuy lâu hơn nhưng căn bệnh được trị từ nguyên nhân, xóa sổ hoàn toàn triệu chứng, phòng ngừa bệnh tái phát hay phát triển thành biến chứng.
Tính anh toàn cao: Đông y chữa thoát vị đĩa đệm bằng thuốc thảo dược tự nhiên, các vị thuốc đều “có tên, có tuổi” trong lịch sử y học cổ truyền. Vì thế, việc dùng thảo dược không lành tính, gây tác dụng phụ hầu như không xảy ra.
Các liệu pháp hỗ trợ đều được chứng minh về tính hiệu quả, khoa học trong điều trị: Liệu pháp châm cứu, xoa bóp bấm huyệt, điếu ngải, kéo giãn cột sống, lồng xông ngải… đều đã được chứng minh tác dụng và tính khoa học trong điều trị. Vì vậy người bệnh hoàn toàn yên tâm vào việc lựa chọn chữa thoát vị đĩa đệm bằng Đông y.

CHỮA GAI, THOÁI HÓA, THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG VỚI XƯƠNG RỒNG

Y học cổ truyền có ghi chép rằng xương rồng có tính hàn, vị đắng và có độc. Trong xương rồng có chứa hợp chất heterosid flavonic. Đây là một chất có khả năng chống viêm, giảm đau, chống co thắt. Ứng dụng trong chữa bệnh, dân gian có nhiều bài thuốc dùng xương rồng để chữa bệnh đường tiêu hóa, táo bón, chữa bệnh xương khớp mà điển hình là chữa thoát vị đĩa đệm.


Tuy nhiên, người bệnh cũng cần lưu ý không được để nhựa xương rồng dính vào mắt sẽ gây hỏng mắt. Ngoài ra, loài cây này có độc tố nên việc sử dụng cũng cần hết sức cân nhắc và thận trọng.
Trong điều trị thoát vị đĩa đệm, có một số bài thuốc điển hình từ cây xương rồng như sau:

Bài thuốc từ xương rồng bẹ, cúc tần, ngải cứu và tơ hồng

Để tăng hiệu quả điều trị thoát vị đĩa đệm của xương rồng bẹ, Đông y có bài thuốc kết hợp thêm cúc tần, ngải cứu và dây tơ hồng. 3 loại thảo mộc kết hợp này cũng là những vị thuốc rất nổi tiếng trong công dụng chống viêm, giảm đau nhức, chữa bệnh xương khớp. Theo đó:
Ngải cứu: Có vị cay ấm nóng, tính đắng và chứa rất nhiều hoạt chất kháng khuẩn tự nhiên, cineol, dehydro matricaria este, tricosanol, tetradecatrilin… các chất này có thể làm giảm các cơn đau thần kinh trong bệnh thoát vị đĩa đệm rất tốt.
Tơ hồng xanh: Có tính ôn, vị ngọt cay, chứa nhiều vitamin A, carotenoid, glycoside, lecithin, quercetin… có tác dụng chống viêm, an thần, mạnh gân cốt, nhuận tràng.
Cúc tần: Có tính mát, vị hơi đắng, thành phần có chứa nhiều tinh dầu, axit chlorogenic, caroten, vitamin C, canxi, sắt… có tác dụng tán phong hàn, tiêu độc, sát trùng, chữa đau nhức xương khớp, gai cột sống và một số bệnh liên quan đến tiêu hóa.

SỬ DỤNG CÂY NGẢI CỨU VỚI NGƯỜI BỆNH CỘT SỐNG

Cây ngải cứu (tên khoa học: Artemisia vulgaris) hay còn gọi là Cỏ linh ti, nhả ngải, quá sú, thuốc cứu, ngải diệp.
Trong cây ngải cứu có chứa rất nhiều tinh dầu, các hoạt chất có tác dụng kháng khuẩn, nhiều choline, adenin, flavonoid, dehydro matricaria este… nên có tác dụng tiêu viêm, giảm đau thần kinh trong điều trị thoát vị đĩa đệm rất tốt.
Trong Y học cổ truyền có miêu tả vị thuốc ngải cứu với đặc điểm như: Vị đắng, tính cay ấm nóng, quy vào 3 kinh can, tỳ và thận, có tác dụng cầm máu, giảm đau nhức xương khớp, chữa đau đầu, đau bụng kinh….
Trong ứng dụng dùng ngải cứu chữa thoát vị đĩa đệm có thể dùng độc vị hoặc kết hợp với các loại thảo dược khác. Dưới đây là một số bài thuốc thông dụng nhất:

TÁC DỤNG CỦA LÁ LỐT VỚI CÁC BỆNH LÝ VỀ CỘT SỐNG

Lá lốt là một loài cây thân thảo, ưa râm mát, ưa ẩm. Cây có tên khoa học là Piper lolot, thuộc họ hồ tiêu. Trong y học cổ truyền, cây lá lốt được mô tả là có vị nồng, tính ấm, quy vào 4 kinh là tỳ, vị, can, mật. Xét về thành phần hóa học, lá lốt có chứa nhiều ancaloit, benzylaxetat, beta-caryophylen, cùng nhiều tinh dầu khác.
Trong y học, lá lốt được dùng trong chủ trị nhiều chứng bệnh như phong hàn thấp nhiệt, tê bại chân tay, đau nhức xương khớp, đau răng, đau đầu, rối loạn tiêu hóa…
Chữa thoát vị đĩa đệm bằng lá lốt là một trong những phương pháp quen thuộc được nhiều người áp dụng. Dưới đây là một trong số những bài thuốc phổ biến nhất:

HỖ TRỢ CHỮA THOÁT VỊ, THOÁI HÓA, GAI, ĐAU THẦN KINH TỌA VỚI CHUỐI HỘT

Trong YHCT, chuối hột (chuối chát) được miêu tả là có vị đắng, chát, ngọt, tính mát, ít độc, quy vào 3 kinh phế, can và tỳ.
Phân tích về thành phần, trong chuối hột có chứa khá nhiều dưỡng chất, chất khoáng và vitamin như: Saponin, tannin, coumarin, flavonoid anthocyanosid, delphinidin, enzyme polyphenol oxidase, anthocyanin, tinh dầu…
Trong y học dân tộc, chuối hột được nhắc nhiều với công dụng giúp giải độc, sát trùng, lợi tiểu, lương huyết, tiêu cơm, thoái nhiệt, giải phiền khát. Nhờ vậy, vị thuốc này nổi tiếng trong điều trị một số bệnh lý như chữa sỏi thận, sỏi tiết niệu, bệnh đái tháo đường, bệnh liên quan đến đường ruột.
Do có đặc tính kháng viêm, kháng khuẩn khá tốt nên nhiều người cho rằng có thể dùng chuối hột để giúp giảm đau trong một số bệnh xương khớp như thoát vị đĩa đệm. Cụ thể như sau:

Theo bác sĩ Trần Văn Năm (Nguyên Viện phó Viện Y Dược học dân tộc TP.HCM), những cách chữa thoát vị đĩa đệm bằng chuối hột kể trên đều là những kinh nghiệm dân gian truyền miệng, hiện tại chưa có bất cứ tài liệu chính thống nào ghi nhận hiệu quả của những bài thuốc kể trên. Cũng theo bác sĩ Năm, người bệnh nên cân nhắc kỹ càng trước khi áp dụng những phương thuốc kể trên.

GẠO LỨT- BÀI THUỐC QUEN THUỘC VỚI NHIỀU BỆNH NHÂN CỘT SỐNG

Gạo lứt là một loại thực phẩm tốt cho sức khỏe với thành phần có chứa rất nhiều khoáng chất thiết yếu như canxi, kali, magie, sắt, natri, vitamin K, IP6, protein, chất béo, chất xơ, vitamin B1, B2, B3, B5, B6, paraaminobenzoic, phytic… So với gạo trắng thông thường, gạo lứt được đánh giá là tốt hơn hẳn, đặc biệt là với người béo phì, mắc bệnh tim mạch hoặc tiểu đường.
Gần đây, có một vài nguồn tin cho rằng có thể dùng gạo lứt để chữa thoát vị đĩa đệm. Tuy nhiên, trong thực tế thì chưa hề có một báo cáo khoa học nào đề cập tới công dụng trên của gạo lứt. Mặt khác, dù trong thành phần gạo lứt có nhiều chất rất tốt cho sức khỏe xương khớp nhưng nó chỉ có tác dụng hỗ trợ để việc điều trị bệnh tốt hơn. Các bác sĩ xương khớp đều khuyến khích người bệnh tuân thủ các liệu pháp điều trị khoa học, kết hợp với việc tập luyện, ăn uống đúng cách.


Nếu muốn, người bệnh có thể bổ sung gạo lứt vào thực đơn hàng ngày trong quá trình điều trị bệnh thoát vị đĩa đệm. Một số cách dùng phổ biến mà người bệnh nên tham khảo:

CỦ GỪNG – GIA VỊ QUEN THUỘC NHƯNG CŨNG LÀ VỊ THUỐC QUÝ

Củ gừng hay Sinh khương là một gia vị, một vị thuốc nam rất quen thuộc với người Việt. Trong YHCT, củ gừng được nhắc đến là vị thuốc có tính ấm, vị cay, mùi thơm, quy vào 6 kinh là tâm, phế, tỳ, vị, thận, đại tràng. Nhiều tài liệu cổ phương cũng nhắc tới công dụng của gừng trong chủ trị nhiều bệnh lý như cảm sốt, đầy bụng ăn không tiêu, tỳ vị hư nhược, trị huyết áp thấp, tăng cường chức năng tiêu hóa, giảm đau…
Y học hiện đại đã tìm ra nhiều hợp chất quý có trong củ gừng như bo rneod, camphen, fellan-dren, xitral… có tác dụng kháng viêm khá tốt.
Nhờ có công dụng tiêu viêm, giảm sưng đau trong một số trường hợp nên nhiều người cho rằng có thể chữa thoát vị đĩa đệm bằng gừng. Theo đó, một vài bài thuốc điển hình mà người bệnh “rỉ tai” nhau như:

Theo bác sĩ Trịnh Thị Hương Giang (Viện Y học cổ truyền Việt Nam), gừng sẽ phát huy tốt nhất công dụng trong chữa đau lưng, đau nhức xương khớp do thay đổi thời tiết, trời lạnh.
Bởi lẽ, bản thân gừng là vị thuốc có tính cay ấm, quy kinh thận, dẫn thuốc vào xương khớp giúp người bệnh đau nhức do phong hàn xâm nhập có thể giảm đau tạm thời. Còn bản thân bệnh thoát vị đĩa đệm thì do huyết ứ gây nên thì cần dùng thuốc có tác dụng hành khí, hoạt huyết mới đúng. Nếu áp dụng gừng trong trường hợp này có thể không đạt được hiệu quả mong muốn.
Bên cạnh đó, lạm dụng chườm nóng nhưng không được cố định cột sống thì có thể khiến đĩa đệm thêm phình lồi, dẫn tới tăng nặng tình trạng thoát vị, chèn ép rễ thần kinh gây đau đớn. Tóm lại, đối với phương pháp dùng gừng chữa thoát vị đĩa đệm, người bệnh hết sức cân nhắc, cần hỏi ý kiến của bác sĩ trước khi thực hiện.

THỰC HIỆN BÀI THUỐC NAM TỪ HẠT ĐU ĐỦ

Hạt đu đủ chín không độc, có mùi thơm và vị hơi cay tương tự như vị của hạt tiêu. Trong hạt đu đủ có chứa nhiều hợp chất quý như acid oleic, palmitic, nhiều acid béo tốt và hàm lượng enzyme cao có khả năng phân giải protein.

Nhờ hiệu quả và những công dụng nhất định kể trên, gần đây có một số thông tin cho rằng có thể dùng hạt đu đủ để chữa thoát vị đĩa đệm. Theo đó, người bệnh thoát vị dùng hạt đu đủ rửa sạch, bỏ lớp màng nhớt bên ngoài rồi giã nát, đắp lên vùng đau nhức trong khoảng 15-30 phút. Làm liên tục trong vòng 1 tháng sẽ giúp giảm đau.
Tuy nhiên, đây mới chỉ là phương pháp truyền miệng chứ trong thực tế chưa có bất cứ báo cáo khoa học nào đề cập đến tác dụng trên của hạt đu đủ. Ngoài ra, các bác sĩ cũng khuyến cáo người bệnh rằng khi áp dụng phương pháp này cần lưu ý một số vấn đề sau:
Hạt đu đủ có chứa một lượng chất papain. Chất này khi đắp trực tiếp lên da có thể gây rát, bứt rứt da như châm kim. Vì thế người bệnh chú ý không lạm dụng vì có thể gây bỏng da.
Tránh đắp hạt đu đủ lên vùng da bị viêm nhiễm vì có thể khiến tình trạng tồi tệ hơn.

THAM KHẢO CÂY MẦN RI HỖ TRỢ CHỮA THOÁI HÓA, THOÁT VỊ, GAI, ĐAU THẦN KINH TỌA,…

Dùng cây mần ri chữa thoát vị đĩa đệm và một số bệnh về xương khớp khác là một trong những bài thuốc được nhiều người bệnh quan tâm. Cây mần ri thường thấy 3 loại là cây có hoa màu trắng, hoa vàng và hoa màu tím. Để chữa thoát vị đĩa đệm thì ta dùng loại có hoa màu trắng.

Theo y học hiện đại, cây mần ri trong thành phần có chứa nhiều hoạt chất quý có dược tính mạnh như: alucocleomin, glucocapparin, glycosid, acid viscosic, viscosin… ngoài ra còn có một số khoáng chất như chất béo, protein, vitamin A, đường khử…


Trong nhiều ghi chép y học cổ phương có nhắc tới tác dụng trong giảm đau xương khớp, chữa phong tê thấp. Vì vậy, người bệnh thoát vị đĩa đệm có thể dùng cây mần ri để hỗ trợ giảm triệu chứng đau nhức. Cách sử dụng như sau:
Cách 1: Dùng 40gr mần ri phơi khô hãm lấy nước uống trong ngày. Mỗi lần uống 200-300ml, ngày uống 3-5 lần.
Cách 2: Dùng cây mần ri tươi giã nát cùng với muối hạt to rồi đắp lên vùng xương khớp sưng đau.

BÀI THUỐC NAM TỪ CÂY CHÌA VÔI

Chìa vôi còn có nhiều tên gọi khác là bạch phấn đằng, cây đau xương, bạch liêm. Trong nhiều tài liệu YHCT có nhắc tới công dụng trong chữa bệnh xương khớp của cây chìa vôi. Theo đó, chìa vôi có vị đắng nhẹ, hơi chua, hơi the, tính mát.
Phân tích thành phần hóa học, cây chìa vôi có chứa nhiều tinh chất quý như saponin, phenolic, nhiều acid hữu cơ, acid amin, vitamin C, protid, glucid, caroten… các hợp chất này có công dụng trong việc chống oxi hóa, giảm viêm tốt.


Về công dụng trong điều trị một số bệnh về xương khớp như thoát vị đĩa đệm, thoái hóa cột sống hay gai cột sống, hiện chưa có tài liệu chính thức nào ghi nhận. Tuy nhiên, trong nhiều bài thuốc dân gian nhắc tới việc sử dụng phần thân dây và phần củ của chìa vôi để chữa bệnh. Cụ thể:
Thân dây chìa vôi có vị ngọt đắng, tính mát giúp thanh nhiệt, giải độc, tán kết, hành huyết.
Phần củ chìa vôi có vị hơi chua, tính bình giúp tiêu độc, thông kinh, trừ tê thấp, tán huyết ứ.
Để dùng cây chìa vôi chữa thoát vị đĩa đệm, thoái hóa cột sống và một số bệnh xương khớp khác thì cần kết hợp thêm một số vị thuốc khác. Cụ thể như sau:

Lưu ý: Phụ nữ có thai không nên dùng chìa vôi để chữa bệnh.

HỖ TRỢ CHỮA THOÁI HÓA CỘT SỐNG, THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM, GAI TỪ CÂY NGŨ SẮC,…

Gần đây trên mạng xã hội chia sẻ rầm rộ một bài thuốc chữa thoát vị đĩa đệm từ cây mâm xôi (cây dấp xôi). Theo đó, người viết chỉ cho người bệnh dùng cây mâm xôi cắt khúc, rửa sạch, phơi khô. Mỗi lần dùng 20g, nấu cùng 2 lít nước cho tới khi còn 1 lít. Dùng nước này uống trong ngày, liên tục trong vòng 20 ngày thì sẽ giúp giảm cơn đau nhức do thoát vị đĩa đệm, thoái hóa cột sống…
Tuy nhiên, khi tìm hiểu kỹ hơn về cây mâm xôi và công dụng của nó thì không thấy bất cứ một tài liệu nào đề cập đến công dụng này.
Cụ thể, theo lương y Hoàng Duy Tân (Báo sức khỏe và đời sống), cây mâm xôi có vị ngọt chua, hơi se, tính bình, có công dụng bổ can thận, cố tinh minh mục, giúp cường dương, thanh nhiệt, hoạt huyết, tán ứ và tiêu viêm.
Toàn cây mâm xôi đều có thể dùng làm thuốc. Trong lá, thân, rễ có chứa nhiều hoạt chất như: tanin, flavonoid, fragarin, ellagic, acid galli. Trong khi đó, quả có chứa nhiều vitamin C, fructoz, axit xitric, salysilic, malic, acid ellagic…
Trong dân gian, cây mâm xôi già thường được phơi khô rồi nấu nước uống như trà để giúp kích thích tiêu hóa. Trong khi đó quả mâm xôi chín có màu đỏ đẹp, có thể đem phơi khô rồi dùng kết hợp với các vị thuốc khác trong chữa chứng thận hư, liệt dương, tiểu són, di tinh…
Như vậy, thông tin dùng cây mâm xôi chữa thoát vị đĩa đệm hay các bệnh xương khớp khác hiện chưa có cơ sở khoa học chính xác. Người bệnh cân nhắc trước khi dùng.

SỬ DỤNG CÂY NGŨ SẮC ĐỂ CHỮA THOÁT VỊ, THOÁI HÓA, GAI CỘT SỐNG,…

Trên mạng xã hội gần đây có chia sẻ bài thuốc từ cây ngũ sắc chữa thoát vị đĩa đệm, thoái hóa cột sống, gai cột sống… Theo đó, người viết chia sẻ rằng mỗi ngày dùng lá và thân cây ngũ sắc (phơi khô hoặc dùng tươi) để nấu nước uống có thể chữa các bệnh lý kể trên.
Cây ngũ sắc hay cây bông ổi, hoa tứ quý, cây trâm ổi là một loại cây quen thuộc thường được trồng làm cảnh, cây cảnh đô thị, trồng ngoài công viên. Tên khoa học của loài cây này là Lantana camara L, nó nằm trong họ cỏ roi, có thân thảo và phát triển thành các bụi nhỏ.
Trong cuốn “Những cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” có đề cập tới nhiều công dụng của cây ngũ sắc như sau:

Trong một số tư liệu dân gian có ghi lại việc dùng cây ngũ sắc chữa bệnh phong thấp, giảm đau xương khớp như sau: Lấy 25g rễ ngũ sắc khô hoặc 40g rễ ngũ sắc tươi sắc nước uống hàng ngày hoặc đem ngâm rượu rồi uống có thể giúp giảm triệu chứng đau nhức.
Chính nhờ công dụng này mà một số người cho rằng có thể dùng cây ngũ sắc để chữa bệnh xương khớp cụ thể là bệnh thoát vị đĩa đệm. Tuy nhiên, trên thực tế thì bài thuốc này chỉ có công dụng giảm một phần nào đó cơn đau do các bệnh lý này gây ra, đồng thời người bệnh cần dùng trong thời gian nhất định thì mới thấy hiệu quả.
Lưu ý: Không dùng bài thuốc từ lá ngũ sắc cho phụ nữ mang thai.

HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ ĐAU THẦN KINH TỌA, GAI, THOÁI HÓA, THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM TỪ TẦM GỬI

Cây tầm gửi (tên khoa học: Ramulus Faxilli) còn có nhiều tên gọi khác nhau như: Cây chùm gửi, cây tằm gửi. Ngoài ra, tên gọi của loài cây này còn phụ thuộc vào cây chủ mà nó ký sinh. Ví dụ: Cây tầm gửi ký sinh trên cây dâu tằm có tên gọi là tầm gửi dâu, ký sinh trên cây gạo gọi là tầm gửi gạo, ký sinh trên cây nghiến gọi là tầm gửi nghiến…

Hầu hết các bộ phận trên cây tầm gửi đều có thể dùng làm thuốc (trừ rễ). Theo đó, để dùng làm thuốc, tầm gửi thường được thu hái khi chưa ra hoa, cây đem về được bỏ rễ, cắt khúc, sấy nhẹ hoặc phơi trong râm mát. Để bảo quản và sử dụng thì có thể đem tầm rượu và sao qua.
Các nhà khoa học đã tìm thấy nhiều dược tính quý có trong tầm gửi nói chung như rans-phytol, afzeline, alpha-tocopherol quinone, quercitrin, quercituron, catechin…


Theo GS.TS Phạm Xuân Sinh (trích từ báo Sức khỏe đời sống trong bài “công hiệu chữa bệnh từ cây tầm gửi”), Đông y có ghi chép lại rất nhiều công dụng quý của cây tầm gửi. Trong đó đặc biệt chú ý đến công dụng giảm đau nhức xương khớp, trừ phong thấp, đau xương khớp do chấn thương… Vì vậy, về quan niệm dùng cây tầm gửi chữa thoát vị đĩa đệm, thoái hóa cột sống, gai cột sống, đau thần kinh tọa… là có cơ sở.
Ngoài ra, qua phân tích về tác dụng dược lý của cây tầm gửi, y học hiện đại cũng tìm thấy nhiều hoạt chất có tác dụng chống viêm, giảm đau, ngăn ngừa oxy hóa như: Saponin, flavonoid, couramin, steroid, polysarcarid, các acid hữu cơ…
Trong số các loại tầm gửi có công hiệu trong chữa bệnh xương khớp thì nổi tiếng nhất là tầm gửi dâu và tầm gửi gạo. Cụ thể:
Tầm gửi dâu: Tên gọi trong Đông y là Tang ký sinh. Dược liệu này có vị đắng, không độc, tính bình, vào cơ thể tác dụng vào hai kinh can và thận. Loại tầm gửi này rất nổi tiếng trong bài thuốc “Độc hoạt tang ký sinh” với công dụng trừ phong thấp, chữa đau lưng mỏi gối, làm mạnh gân cốt, bồi bổ gan thận.
Tầm gửi gạo: Có vị chát nhẹ, tính bình, mùi thơm, khi vào cơ thể thì tác động vào hai kinh can và thận. Nổi tiếng với công dụng tăng cường chức năng thận, trị phong tê thấp, đau lưng, mỏi gối.
Về công dụng chữa bệnh xương khớp nói chung, Đông y có nhiều bài thuốc quý từ cây tầm gửi như sau:

CÂY XẤU HỔ – VỊ THUỐC TỰ NHIÊN TRONG DÂN GIAN VỚI NGƯỜI BỆNH CỘT SỐNG

Cây xấu hổ trong dân gian còn có rất nhiều tên gọi khác như: Cây trinh nữ, cây cỏ ngươi, cây mắc cỡ, cây thẹn, hàm tu thảo, cây cỏ thẹn, nhả nã nhẻn (Tày), mìa nhau (Dao), la tép (Bana). Cây xấu hổ có tên khoa học là Mimosa pudica L, thuộc họ Đậu (Fabaceae).
Theo Y học cổ truyền, cây xấu hổ có vị ngọt, hơi se, có độc (không nhiều), tính hơi hàn, vào cơ thể quy vào kinh phế. Nhiều tài liệu cổ phương cũng nhắc tới công dụng của cây xấu hổ trong việc an thần, giảm đau, chống viêm, hạ áp huyết, lợi tiểu, tiêu tích.


Theo nghiên cứu hiện đại, trong cây xấu hổ có các thành phần chính là: Minosin, Crocetin, Flavonosid, selen, các loại alcol, acid amin, acid hữu cơ.
Đặc biệt, người ta đã tìm thấy trong toàn thân của cây xấu hổ chứa nhiều thành phần hóa học hoạt động tương tự như chất Alcaloid – một acid amin thường được dùng để ức chế thần kinh trung ương, gây tê và giảm đau. Ngoài ra, trong lá của cây xấu hổ người ta còn tìm ra nhiều hoạt chất có vai trò tương tự như Adrenalin hay selen (có trong hạt), chúng là những chất có vai trò hỗ trợ quá trình bơm máu về tim.
Trong các tài liệu YHCT đã nhắc tới nhiều công dụng của cây xấu hổ trong điều trị chứng suy nhược thần kinh, chữa phong thấp, điều trị đau lưng, đau nhức xương khớp, chân tay tê bại. Vì vậy, có thể thấy việc dùng cây xấu hổ chữa thoát vị đĩa đệm, thoái hóa cột sống, gai cột sống, đau thần kinh tọa là có cơ sở.

SỬ DỤNG CÂY LƯỢC VÀNG CHỮA THOÁI HÓA, THOÁT VỊ CỘT SỐNG HIỆU QUẢ KHÔNG NGỜ

Từ năm 2007, cây lược vàng nổi lên như một “thần dược” có thể chữa nhiều bệnh tật từ bệnh ung thư, dạ dày, viêm họng cho đến bệnh xương khớp… vì thế, rất nhiều người dân đã đem loài cây này về trồng trong vườn nhà.
Riêng với công dụng dùng cây lược vàng chữa thoát vị đĩa đệm và một số bệnh xương khớp khác như thoái hóa cột sống, gai cột sống, đau thần kinh tọa, có một số bài thuốc truyền miệng như sau:

Tuy nhiên, hiện tại chưa có bất cứ một nghiên cứu khoa học nào chứng minh hiệu quả từ các bài thuốc trên. Thực tế cũng có một số nghiên cứu nhất định về cây lược vàng mà người bệnh có thể tham khảo thêm.
Theo Tiến sĩ Võ Văn Chi (tác giả cuốn Từ điển cây thuốc Việt Nam), lược vàng hay cây ria vàng, cây lan vòi hay cây trai thơm có tên khoa học là callisia fragrans (Lindl.) Woodson (Spironema fragrans Lindl.). Đây là một loài cây thảo sống lâu năm thuộc họ thài lài. Lược vàng được miêu tả là có vị hơi chua, không độc, tính mát, thường được dùng để giảm đau, giảm ngứa, làm lành vết loét, làm liền sẹo trong một số bệnh như: Viêm họng, đau dạ dày, đau khớp xương…
Khi phân tích thành phần hóa học của lá và thân cây lược vàng, người ta tìm thấy hợp chất flavonoid (flavonoid quercetin và kaempferol), chất steroid (phytosterol), ecdysteroid, sắt, đồng, crom… những chất này có đặc tính kháng viêm, chống oxy hóa, hạ đường huyết và tăng sức đề kháng cho cơ thể.
Theo bác sĩ Trần Văn Năm (Viện Y Dược học dân tộc TP.HCM), hiện tại cây lược vàng chưa có tên chính thức trong Dược Điển. Ngoài ra, chưa có một nghiên cứu lâm sàng nào khảo sát về tác dụng của lược vàng trong điều trị bệnh lý cụ thể. Vì thế, người bệnh sử dụng loại cây này trong điều trị cần cân nhắc, tuyệt đối không được lạm dụng.
Cây cỏ xước chữa thoát vị đĩa đệm, thcs, gcs, dthkt
Cây cỏ xước hay nam ngưu tất, kê cốt hoang, thổ ngưu tất có tên khoa học là Achyranthes aspera L. Đây là một vị thảo dược khá quen thuộc trong Đông y và thường có mặt trong nhiều bài thuốc nói chung.
Theo bác sĩ Phó Thuần Hương (trích từ bài “Cỏ xước trị rối loạn kinh nguyệt, đau nhức khớp” – báo Sức khỏe và đời sống), tất cả các bộ phận của cây cỏ xước đều có thể dùng làm thuốc trong đó rễ là chủ yếu.
Đông y mô tả cỏ xước là dược liệu có vị đắng, chua, tính mát, quy vào hai kinh can và thận, có tác dụng thanh nhiệt, khu phong trừ thấp, tiêu viêm, giải biểu, lợi thủy. Vì vậy, cỏ xước thường được dùng để chữa bệnh phong thấp, đau nhức xương khớp, cảm mạo phát sốt, tiểu buốt, tiểu rắt, kinh nguyệt không đều…
Về công dụng chữa phong thấp, đau nhức xương khớp, giảm đau trong bệnh thoát vị đĩa đệm, gai cột sống, thoái hóa cột sống của cây cỏ xước có bài thuốc như sau:

Trong cuốn “Từ điển thảo mộc dược học” do dược sĩ Trần Việt Hưng biên soạn, có 4 loại cỏ xước là: Cỏ xước lông trắng, cỏ xước Ấn Độ, cỏ xước xám đỏ và cỏ xước nguyên chùng. Loại thường được dùng làm thuốc là cỏ xước lông trắng.
Phân tích về thành phần hóa học, trong cây cỏ xước có rất nhiều hoạt chất quý như: sapogemin, saponin, hentriacontane, saponin oligosaccharide, achyranthine alkaloids, betaine, caroten, vitamin C… Vì vậy, nghiên cứu cho thấy chiết xuất từ cỏ xước có khả năng chống viêm, giảm đau, hạ huyết áp.
Tìm hiểu thêm về tác dụng của cây cỏ xước trong video sau:

https://www.youtube.com/watch?v=OUiOxkUeHK4