PHIM TÀI LIỆU

Phim tư liệu là gì

Nói đến phim tài liệu, có lẽ chẳng ai trong chúng ta lại tỏ ra xa lạ với nhóm thể loại vô cùng quan trọng và cần thiết này. Lí do: người ta có thể nghe nói, gặp gỡ nó hằng ngày, qua các chương trình truyền hình từ trung ương đến địa phương, từ VTV đến VTC, Truyền hình thông tấn, v.v. Không chỉ trình chiếu những bộ phim do Việt Nam sản xuất, VTV còn có cả một chuyên mục được gọi tên là Phim tài liệu nước ngoài, nhiều khi rất hấp dẫn khán giả truyền hình.

Tuy nhiên, giống như một nghịch lí, dường như chẳng mấy ai trong số đông công chúng, bao gồm cả khán giả điện ảnh và truyền hình, để ý đến sự hiện diện của phim tài liệu và thử đếm xem, mỗi ngày có bao nhiêu bộ phim thuộc nhóm thể loại này tuồn tuồn trôi qua màn ảnh truyền hình của các “nhà đài”. Bởi vì, âm thầm và lặng lẽ, những bộ phim tài liệu thuộc đủ các thể loại ấy cứ nhòe lẫn, hòa tan vào những tác phẩm báo chí truyền hình được người ta phát sóng, trừ những trường hợp đặc biệt, với những bộ phim đặc biệt, được giới thiệu kĩ từ trước đó nhằm thu hút người xem.

Vậy thì phim tài liệu quan trọng ở chỗ nào? Câu trả lời là ở bản chất, đặc trưng của nhóm thể loại này, nhóm thể loại mà từ những năm hai mươi của thế kỉ trước, các bậc thầy của điện ảnh Xô viết đã gọi là Điện ảnh mắt hay Điện ảnh sự thật. Nghĩa là chỉ có sự thật và sự thật mà thôi. Không hư cấu, không dàn dựng, không có sự xuất hiện của diễn viên. Hiện thực cuộc sống phải được phản ánh một cách khách quan, trung thực nhất như nó vốn có; không được bóp méo, đảo lộn hay tô vẽ gì thêm. Phải vậy chăng, mà cho đến tận bây giờ, vẫn có người còn tranh cãi xem phim tài liệu có phải là tác phẩm nghệ thuật không, hay là báo chí; hoặc nó là sự giao thoa giữa nghệ thuật (điện ảnh) và báo chí (truyền hình). Nhưng dù vẫn còn những quan niệm khác nhau, người ta vẫn không thể phủ nhận, rằng phim tài liệu, cũng giống như các thể loại tác phẩm báo chí truyền hình đều có chung một gốc, đó là tất cả đều phải xuất phát từ những hình ảnh có thật đã và đang tồn tại trong cuộc sống.

Lịch sử điện ảnh đã chỉ ra rằng Phim thời sự – tài liệu là nhóm thể loại ra đời sớm nhất, căn cứ vào cách thức làm phim. Đó là việc, vào buổi bình minh của điện ảnh, khi mọi quan niệm về thể loại và các chức danh nghiệp vụ của bộ môn nghệ thuật này còn chưa ra đời, để làm ra một bộ phim (thường chỉ dài khoảng vài ba phút chiếu) người ta cứ hồn nhiên vác máy đi bất cứ đâu, ghi hình bất kì cái gì họ muốn (toàn là những người thật, việc thật!). Nhưng cũng chính từ cách làm này, có ai ngờ lại dẫn đến sự ra đời của nhóm thể loại đầu tiên trong điện ảnh. Còn các nhóm thể loại khác, như phim khoa học, phim hoạt hình và phim truyện, là chuyện về sau. Nhưng có lẽ không phải ngẫu nhiên mà gần như tất cả các đạo diễn phim truyện đều ít nhiều thử sức trong lĩnh vực phim tài liệu, vì nhóm thể loại này bao giờ cũng có một sức hấp dẫn riêng. Đó là chưa kể đến những người suốt đời gắn bó với phim tài liệu, thậm chí tạo nên cả một khuynh hướng hay trường phái, như Flaherti (Mỹ), Dziga Vertốp (Nga Xô viết) từ đầu thế kỉ 20. Muộn hơn, có thể kể đến Rôman Carman (Liên Xô), Xương Hạc Linh (Trung Quốc), Soiman, Hainốpxki (Đức), Joris Ivenx (Hà Lan), Daniel Costen (Pháp), v.v. Ở Việt Nam, là những tên tuổi như Khương Mễ, Mai Lộc, Nguyễn Tiến Lợi (thời kì đầu), Bùi Đình Hạc, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Trần Văn Thủy, Đào Trọng Khánh, Lê Mạnh Thích và biết bao nhiêu gương mặt khác của hôm nay. Với mảng phim tài liệu truyền hình, không thể quên được Trịnh Văn Thanh, Bùi Ngọc Hà, Lê Thuấn, Trần Minh Đại, Vi Hòa…

Nói đến phim tài liệu, từ lâu, người ta đã cho rằng nhóm thể loại phim này có những chức năng chủ yếu như sau:

Thứ nhất: Chức năng thông tấn và báo chí. Đây chính là chức năng quan trọng nhất, chi phối toàn bộ quá trình xây dựng một bộ phim tài liệu nói chung. Từ đó, mỗi bộ phim đi sâu phản ánh một sự kiện, vấn đề hoặc con người cụ thể, với những mối quan hệ biện chứng, diễn biến, tác động qua lại, những xung đột và mâu thuẫn, v.v. trong một thời gian hoặc không gian xác định, từ đó làm bật ra tư tưởng chủ đề tác phẩm. Trong rất nhiều trường hợp, người ta có thể tìm thấy trong phim tài liệu những thông tin xác thực, khách quan, mang tính thời sự nóng hổi, ngay cả khi nó phản ánh những vấn đề đã thuộc về quá khứ. Bên cạnh đó là những bộ phim chính luận với mục đích thông tin tuyên truyền phục vụ những sự kiện chính trị nổi bật , các ngày lễ lớn, nhân dịp kỉ niệm, v.v. Ngoài ra còn có thể kể đến những bộ phim được coi như một thứ vũ khí lợi hại chống lại những quan điểm, hành vi sai trái về chính trị, tư tưởng, v.v.

Thứ hai: Chức năng giáo dục và nhận thức. Thông qua những hình ảnh chân thực về con người, sự việc, sự kiện, vấn đề… với tất cả sự phong phú và đa dạng của nó, phim tài liệu giúp nâng cao nhận thức và tư duy của người xem, thậm chí là góp phần định hướng tư tưởng và thay đổi hành vi của họ. Hơn thế nữa, phim tài liệu còn có thể giúp người xem phát hiện bản chất có ý nghĩa triết học của hiện tượng và sự kiện, nâng sự kiện lên tầm khái quát hóa bằng hình tượng tiêu biểu, nhờ việc sử dụng một cách có hiệu quả các thủ pháp nghệ thuật (điều mà các thể loại báo chí truyền hình khác khó thực hiện được do đặc điểm thể loại, thời lượng và mục đích thông tin). Và cuối cùng, phim tài liệu có thể nhấn mạnh ý nghĩa xã hội của hiện tượng và sự kiện thông qua việc sử dụng các chi tiết điển hình, kết hợp với âm nhạc, tiếng động, lời bình, các thủ pháp dựng phim…, tác động mạnh mẽ tới người xem, tạo nên một thứ “hiệu ứng dây chuyền”, lan rộng trong xã hội.

Thứ ba: Chức năng thẩm mĩ và giá trị tư liệu lịch sử. Không dừng lại ở việc miêu tả hiện thực một cách khách quan, trung thực, phim tài liệu (nhất là phim tài liệu nghệ thuật) còn chú trọng khai thác chất thơ với những ẩn dụ, tượng trưng, ước lệ… nhằm tác động tới cảm xúc thẩm mĩ của khán giả, khiến họ cùng vui, buồn, hờn, giận… với những hình ảnh trong phim. Mặt khác, chúng ta cũng không thể quên được rằng, mỗi bộ phim tài liệu, tự nó đã chứa đựng những giá trị tư liệu nhất định về lịch sử, văn hóa, đất nước và con người. Điều này đặc biệt quan trọng đối với tất cả những gì đã thuộc về quá khứ, những sự việc, sự kiện đã trở thành lịch sử. Chẳng hạn như hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập; những người lính phất cao cờ đỏ sao vàng trên nóc hầm Đờ Cátxtri; B52 Mỹ cháy trên bầu trời Hà Nội, v.v. Đó là những hình ảnh mà không ai và chẳng bao giờ có thể bịa ra hay “làm lại” được.

Có lẽ do tầm quan trọng như thế, nên phim tài liệu đã được người ta tôn vinh là “lương tâm thời đại”. Điều này đúng, nếu chúng ta biết được rằng, nhờ có bộ phim Vụ án Đrâyphuyx của Mêliex, một trong những bậc thầy vĩ đại của điện ảnh Pháp thời phim câm, mà nhân vật chính, đại úy Đrâyphuyx đã được minh oan, thoát khỏi tội “làm gián điệp cho Đức” trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Nhờ những bộ phim của Jôrix Ivenx, Soiman và Hainốpxki… mà nhân dân thế giới hiểu thêm được cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta thực chất là như thế nào. Và cũng chính là nhờ có Lê Mạnh Thính qua Trở lại Ngư Thủy, chúng ta mới giật mình khi biết đến bi kịch của những nữ dân quân anh dũng của một thời, nhanh chóng bị rơi vào lãng quên sau khi chiến tranh kết thúc. Tất nhiên, sức mạnh thức tỉnh và lay động của phim tài liệu không chỉ đóng khung trong những ví dụ này.

Tại các liên hoan phim trên thế giới cũng như ở Việt Nam, phim tài liệu luôn luôn có một vị trí rất trang trọng. Ngay cả giải Oscar danh giá cũng có chỗ đứng cho nhóm thể loại phim này. Hơn thế nữa, người ta còn tổ chức Liên hoan phim quốc tế dành riêng cho phim tài liệu. Và Liên hoan phim ngắn khu vực châu Á – Thái Bình Dương là gì, nếu không phải là để tôn vinh nhóm thể loại này? Xin lưu ý: chính tại Liên hoan phim ngắn khu vực châu Á – Thái Bình Dương, điện ảnh tài liệu Việt Nam đã lập nên kì tích: bốn lần liên tiếp đoạt giải Vàng, một kỉ lục không nước nào đạt được.

Phim tài liệu điện ảnh và phim tài liệu truyền hình

Các thể Phim tài liệu

Từ lâu, theo các nhà lí luận phê bình điện ảnh Liên Xô, phim tài liệu gồm có hai thể loại, là phim tài liệu chính luận và phim tài liệu nghệ thuật. Nhưng dù là phim tài liệu chính luận hay nghệ thuật, thì cả hai thể loại này đều có chung các đối tượng phản ánh giống nhau, là con người, sự kiện và vấn đề. Còn việc phân chia thể loại (thật ra cũng chỉ là tương đối) chủ yếu dựa vào cách đặt vấn đề, phương pháp thể hiện và tư tưởng chủ đề của bộ phim, những yếu tố làm nên phong cách của tác giả và tác phẩm. Cũng từ quan niệm trên, mà người ta có các thể phim tài liệu chân dung, phim tài liệu sự kiện và phim tài liệu vấn đề.

Phim tài liệu chân dung (hoặc kí sự chân dung) thường lấy con người làm đối tượng miêu tả, trong đó đặc biệt chú ý đến những suy nghĩ, tình cảm, hành động của họ, với những nét riêng độc đáo và điển hình, từ đó làm nổi bật tính cách nhân vật; cho thấy những ảnh hưởng, tác động, hiệu quả, hậu quả của họ đối với những người xung quanh và thậm chí là toàn xã hội. Lẽ đương nhiên, đây phải là con người tiêu biểu, theo một nghĩa nào đó, đại diện cho một tầng lớp cụ thể (như công nhân, nông dân, trí thức, v.v.). Và như vậy, tầm quan trọng của nhân vật không phải ở địa vị xã hội của họ, mà là ở chỗ, họ có cái gì đặc biệt, khác với những người mà họ “được cử làm đại diện”. Ví dụ, nói đến nông dân, ai cũng nghĩ ngay đến những người ngay thẳng, thật thà, chịu thương chịu khó… Nhưng nếu các bác “Hai Lúa” ấy ngày nay lại mày mò, chế tạo thành công một số loại máy móc, nông cụ có giá trị, thì đó đã thực sự là độc đáo và mới mẻ nhờ cái sự “chẳng giống ai” này!

Lẽ đương nhiên, nhân vật chính trong phim tài liệu chân dung thường phải là những người tốt và tích cực. Quan điểm này đúng nhưng chưa đủ. Bởi vì xét về mặt điển hình hóa trong nghệ thuật, thì dù “chính diện” hay “phản diện” cũng đều bình đẳng như nhau. Vấn đề là ở chỗ, người ta chọn lựa, miêu tả nhân vật ấy như thế nào và để làm gì. Ca ngợi hay phê phán, ủng hộ hay phản đối, hạ thấp hay đề cao… đều phải rõ ràng. Sự thật không phải như vậy ư, cổ kim, đông tây đã cho thấy, có những nhân vật được tác giả chăm chút, dồn hết tâm sức của mình vào đó, nhưng vẫn không hay và sống động bằng những nhân vật bị cho là xấu xa, tiêu cực. Thử hỏi, đọc xong Truyện Kiều, người ta nhớ đến ai nhiều nhất? Chính là những Sở Khanh, Tú Bà, Mã Giám Sinh… rồi mới đến Thúy Kiều, Từ Hải. Còn với Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, người ta không thể nào quên Chí Phèo, Thị Nở, Xuân Tóc Đỏ, v.v. Phải chăng, vì những người tốt (luôn luôn rất đông!) thường bị nhòe lẫn vào nhau. Còn kẻ xấu, kẻ ác lại muôn hình vạn trạng, mỗi người một kiểu. Nhân vật tính cực, trở thành hình mẫu tiêu biểu, sống động, gần gũi với hàng chục triệu người Việt Nam trong gần hai mươi năm qua, Ôsin, là một hiện tượng vô cùng hiếm có. Nhưng thật đáng tiếc, đó lại là một cô gái “made in” Nhật Bản! Còn nhân vật Việt Nam ư, có lẽ… phải chờ thêm một thời gian nữa

Đạo diễn Vũ Xuân Hưng và nhà biên kịch Nguyễn Hậu thời học tập tại VGIK

Phim tài liệu sự kiện thường dành cho những sự kiện tiêu biểu, quan trọng, có ý nghĩa và tác động to lớn đối với nhiều người, đối với xã hội, quốc gia cũng như quốc tế. Ví dụ như chiến thắng Điện Biên Phủ, giải phóng Sài Gòn; khánh thành nhà máy thủy điện Hòa Bình; Mỹ tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam; vụ động đất và sóng thần ở Nhật Bản, v.v. Có thể dễ dàng nhận thấy, với thể phim này, con người bị đẩy xuống hàng thứ yếu, nhường chỗ cho các sự kiện như đã nêu. Tác giả sẽ đi sâu phản ánh, đánh giá, phân tích sự kiện, từ đó cho thấy bản chất, ý nghĩa, tác động, ảnh hưởng của nó là như thế nào. Trên cơ sở đó, có thể đưa ra những bình luận, kiến nghị, giải pháp, đề nghị, v.v. Giả như phim tài liệu nói về sự kiện ngày 11.9.2001 ở Mỹ. Chắc chắn người ta sẽ phải đưa ra hàng loạt số liệu, dữ kiện, thông tin liên quan đến vụ khủng bố có một không hai này, diễn biến cũng như hậu quả của nó và cuối cùng, là những biện pháp phòng chống, ngăn chặn các cuộc khủng bố trong tương lai.

Phim tài liệu vấn đề lại bao gồm các vấn đề, chính luận, luận đề… về chiến tranh, hòa bình, sản xuất, môi trường, xã hội, v.v. khiến người ta phải quan tâm. Chẳng hạn, với cấp độ quốc gia như ở Việt Nam, thì đó là những vấn đề thuộc về xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, phòng chống tham những, cải cách giáo dục, ngăn chặn nạn buôn người… Cao hơn, là hiểm họa từ chiến tranh hạt nhân, vấn đề tranh chấp lãnh hải trên biển Đông, sự nóng lên của toàn cầu… Đến đây chúng ta nhận thấy, trong các sự kiện, tự nó thường đã có các vấn đề; ngược lại, mỗi vấn đề có thể chứa đựng nhiều sự kiện. Nhiệm vụ của những người làm phim là phải tìm ra mối quan hệ và tác động qua lại giữa các sự kiện và vấn đề ấy, cùng với bản chất thực sự của chúng là gì.

Rõ ràng là, giữa phim tài liệu sự kiện và phim tài liệu vấn đề có sự giao thoa, hòa quyện với nhau để tạo nên dòng phim tài liệu chính luận nói chung. Việc phân chia tách biệt hai thể loại phim này đôi khi không dễ, mà thực ra cũng chẳng cần thiết lắm. Tuy vậy, khuynh hướng thể hiện trong phim sẽ mách bảo cho chúng ta biết, nên xếp chúng vào loại nào. Nhưng dù sao, yêu cầu về mặt chính trị và lập trường tác giả là điều kiện vô cùng quan trọng đối với thể loại này. Tuyệt đối không được hư cấu, bịa đặt đã đành, tác giả còn không được phép để cái tôi chủ quan của mình lên tiếng; đồng thời mọi số liệu, dữ kiện, niên biểu… cũng phải hoàn toàn chính xác. Vì thế, làm được một bộ phim tài liệu chính luận xưa nay là rất khó đối với bất kì ai. Tác giả phải làm thế nào đó để từ những cái mà mọi người rất có thể đã biết rồi, tạo nên một bộ phim tài liệu chính luận vừa hay, vừa hấp dẫn. Đó là chưa kể đến những khó khăn do thời thế tạo nên: có những con người, sự việc, sự kiện, vấn đề… ngày hôm qua là đúng, nhưng hôm nay lại sai và ngược lại.

Không riêng gì phim tài liệu chính luận, mà đối với phim tài liệu nghệ thuật cũng thế thôi. Tất cả đều phụ thuộc vào cái tâm, cái tầm và cái tài của người nghệ sĩ, mà nếu thiếu đi dù chỉ một chữ “t” thôi, là đã khó làm nên chuyện. Xưa nay, ở trên khắp đất nước ta, có bao nhiêu đội công nhân đường dây, nhưng tại sao chỉ có Lê Mạnh Thích mới nhìn ra họ, đểĐường dây lên sông Đà biến thành một bài thơ hào hùng nhưng cũng không kém phần lãng mạn, ca ngợi sự lao động quên mình của những con người vô danh đã góp phần làm nên dòng điện cho Tổ quốc. Bùi Ngọc Hà cũng đâu phải dễ dàng biến một bà mẹ liệt sĩ vùng gió Lào cát trắng Quảng Bình thành bà mẹ – Tổ quốc Việt Nam anh hùng. Lại nữa, Hà Nội trong mắt ai của Trần Văn Thủy, ra đời năm 1983 mà vẫn còn mang tính thời sự nóng hổi cho đến tận hôm nay.

Cuối cùng, có lẽ cũng nên nói đến các khuynh hướng trong phim tài liệu. Nếu như phim tài liệu chân dung, kí sự chân dung được cho là thuộc dòng tâm lí (do khuynh hướng đi sâu vào khai thác, thể hiện tâm lí, tính cách nhân vật thông qua các phương pháp điển hình hóa nghệ thuật), thì dòng xã hội học lại là nơi quy tụ những bộ phim theo khuynh hướng phản ánh các sự kiện, vấn đề, luận đề và lập trường tác giả – thuộc thể loại phim chính luận. Còn dòng thơ bao gồm những bộ phim thiên về phản ánh nhận thức thẩm mĩ của tác giả thông qua khuynh hướng sử dụng những ẩn dụ, tượng trưng, hình tượng thơ để tái hiện hiện thực, nhất là đối với những vấn đề thuộc về lịch sử. Những bộ phim nói về vẻ đẹp đất nước, con người, lễ hội truyền thống, làng nghề, du lịch, v.v. đều có thể xếp vào thể loại này.

Các nhân tố trong Phim tài liệu